Quỹ ETF là gì ? Hình thức hoạt động của quỹ ETF tại Việt Nam

Quỹ ETF là gì ? Hình thức hoạt động của quỹ ETF tại Việt Nam

Quỹ ETF được áp dụng rộng rãi trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tuy nhiên không có nhiều người biết rõ về nó. Do vậy, bài viết sau đây chúng tôi xin chia sẻ đầy đủ thông tin, giúp bạn hiểu rõ hơn quỹ ETF là gì, hình thức hoạt động của quỹ ETF tại Việt Nam.

Quỹ ETF là gì ?

ETF là từ viết tắt của Exchange Traded Fund và dịch sang tiếng Việt là quỹ hoán đổi danh mục. Nó là một quỹ đầu tư được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Trong đó, mỗi mã ETF thường sẽ nằm cổ phần của các mã chứng khoán hay sản phẩm tài chính khác ở trên thị trường. Vậy nên, tài sản của các quỹ ETF là cổ phiếu và trái phiếu của các công ty khác ở trên thị trường chứng khoán.

ETF là từ viết tắt của Exchange Traded Fund và dịch sang tiếng Việt là quỹ hoán đổi danh mục. Nó là một quỹ đầu tư được niêm yết trên thị trường chứng khoán

ETF là từ viết tắt của Exchange Traded Fund và dịch sang tiếng Việt là quỹ hoán đổi danh mục. Nó là một quỹ đầu tư được niêm yết trên thị trường chứng khoán

Các quỹ ETF thường rất hấp dẫn các nhà đầu tư bởi nó các mã  chịu chi phí thấp, lợi nhuận ròng cao, tuy nhiên lại được giao dịch mua bán ở một mã chứng khoán trên thị trường. Ngoài ra, các nhà đầu tưu cũng không cần phải lựa chọn cổ phiếu mà có thể trực tiếp mua chứng chỉ quỹ của quỹ ETF. Đây là cách đầu tư thụ động.

Nguồn gốc quỹ ETF bắt đầu từ năm 1989, với sự xuất hiện của mã S&P500 được giao dịch trên thị trường chứng khoán Mỹ và Sở giao dịch chứng khoán Philadelphia. Sản phẩm này khi mới bắt đầu đưa vào hệ thống giao dịch có nhiều trở ngại và phản đối. Tuy nhiên, theo thời gian các quỹ ETF vẫn tồn tại ở khắp các thị trường chứng khoán trên thế giới.

ETF không hoàn toàn an toàn vì đôi khi có những quỹ ETF chỉ số ngành, rủi ro ở đây là có thể cả ngành đó sẽ suy thoái. Chẳng hạn, bong bóng dotcom năm 2000. Mặc dù thế, quỹ ETF vẫn tương đối tiện lợi bởi nó có chi phí thấp, đa dạng hóa tốt.

Lợi ích của quỹ ETF

Với các nhà đầu tư, quỹ ETF chính là một hình thức quỹ mở nhưng thừa kế cả ưu điểm của quỹ đóng và mở. Đồng thời hạn chế được các nhược điểm của 2 loại quỹ này. Vì vậy, ETF có tính minh bạch cao, có danh mục đầu tư đa dạng và phù hợp với nhiều nhà đầu tư.

quỹ ETF chính là một hình thức quỹ mở nhưng thừa kế cả ưu điểm của quỹ đóng và mở. Đồng thời hạn chế được các nhược điểm của 2 loại quỹ này

quỹ ETF chính là một hình thức quỹ mở nhưng thừa kế cả ưu điểm của quỹ đóng và mở. Đồng thời hạn chế được các nhược điểm của 2 loại quỹ này

Lợi ích của quỹ ETF đối với nền kinh tế:

  • Thứ nhất, quỹ ETF là một công cụ hiệu quả để xử lý nợ xấu và sở hữu chéo.
  • Thứ hai, quỹ ETF là công cụ phòng chống khủng hoảng.
  • Thứ ba, quỹ ETF làm tăng tính hấp dẫn cho thị trường chứng khoán đặc biệt là thị trường thứ cấp.
  • Thứ tư, quỹ ETF làm thay đổi hành vi và văn hóa đầu tư.
  • Thứ năm, quỹ ETF giúp thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đặc biệt do cơ chế quỹ mở, nhà đầu tư nước ngoài không bị hạn chế sở hữu số lượng chứng chỉ quỹ nắm giữ.

Quỹ ETF hoạt động như thế nào?

ETF là một loại hình quỹ kết hợp giữa một mô hình quỹ thông thường và một là hình thức cổ phiếu, vừa có đặc tính và chức của quỹ, nhưng vẫn có hoạt động giao dịch như cổ phiếu ở trên thị trường với mức thị giá thay đổi tùy vào khối lượng, cung cấp mà chúng được mua và bán.

ETF là một loại hình quỹ kết hợp giữa một mô hình quỹ thông thường và một là hình thức cổ phiếu, vừa có đặc tính và chức của quỹ

ETF là một loại hình quỹ kết hợp giữa một mô hình quỹ thông thường và một là hình thức cổ phiếu, vừa có đặc tính và chức của quỹ

Chứng chỉ ETF trong chứng khoán hoạt động dựa trên việc các nhà lập thành chứng thực hiện việc thành lập các hạng mục chứng khoán. Từ đó thành lập được chứng chỉ ETF này các bên thành lập sẽ thiết lập vốn, thực hiện chiến lược lựa chọn các cổ phiếu để làm sao cho giá trị của chứng chỉ ETF thu hút được các gia vị của các nhà đầu tư khác nhau.

Tiếp sau đó, các nhà đầu tư sẽ dựa vào cơ chế này để lựa chọn cho mình chứng chỉ phù hợp, theo ngành, theo giai đoạn, theo gia vị đầu tư,…

Chứng chỉ ETF được phân làm hai loại hình là đóng và mở. Mỗi loại đều sẽ có những quy định và cơ chế hoạt động khác nhau. Một số loại hình ETF như sau:

  • Quỹ ETF mô phỏng chỉ số cổ phiếu: Phân loại và mô phỏng theo mức vốn, theo ngành, theo khu vực,…
  • Quỹ ETF mô phỏng chỉ số hàng hóa: Phân loại và mô phỏng theo chỉ số vàng, nông sản, hàng hóa khác,…
  • Quỹ ETF mô phỏng chỉ số tiền tệ: Phân loại và mô phỏng theo chỉ số đồng tiền của các nước đã phát triển.
  • Quỹ ETF mô phỏng chỉ số công cụ nợ: Phân loại và mô phỏng chỉ số các hạng mục trái phiếu phát hành bởi chính phủ.

So sánh quỹ ETF và quỹ ETF mở

Các quỹ phát hành sơ cấp: cơ chế mở

Quá tình phát hành/mua lại của ETF là dành cho các nhà tạo lập thị trường. Đây là các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực chính có quy mô lớn, sức thanh khoản và dòng tiền cao như ngân hàng, công ty chứng khoán. Các thành viên thành lập, khi mua hay bán danh mục chứng khoán, các đơn vị này buộc giao dịch thấp nhất một lô chứng chỉ quỹ.

So sánh quỹ ETF và quỹ ETF mở Các quỹ phát hành sơ cấp: cơ chế mở

So sánh quỹ ETF và quỹ ETF mở Các quỹ phát hành sơ cấp: cơ chế mở

Quy định của ủy bán chứng khoán là một lô đơn vị quỹ ETF được phát sóng có số lượng thấp nhất phải là 100 ngàn chứng chỉ quỹ ETF. Đồng thời, số lượng chứng chỉ quỹ của ETF không cố định như quỹ đóng mà còn tùy vào lượng cung cấp của những bên thành viên, được điều chỉnh thông qua quá trình phát hành hay mua lại.

Những thành viên lập quỹ thực hiện việc mua bán danh mục chứng khoán và ETF với nhau. Phát hành danh mục chứng khoán, đổi danh mục chứng khoán với những thành viên thành lập và lấy ETF hay mua lại những danh mục chứng khoán bằng ETF lấy các hạng mục trong danh mục chứng khoán.

Các quỹ ETF có cơ chế mở thường không giới hạn số lượng chứng chỉ quỹ được bán ra. Khi nhà đầu tư mua vào một chứng chỉ Quỹ thì khi đó có thêm một chứng chỉ quỹ vừa được thêm vào. Còn nếu nhà đầu tư bán một lượng lớn chứng chỉ quỹ gọi là chứng chỉ quỹ mua lại, quỹ có thể sẽ phải thanh lý một phần tài sản của mình để đủ thanh khoản, chi trả cho nhà đầu tư.

Vì quy định trên thị trường mở, các nhà đầu tư không thể theo dõi quỹ như việc theo dõi cổ phiếu giao động mua bán hàng ngày được.

Giao dịch thứ cấp: Cơ chế đóng

Nhà đầu tư không mua được chứng chỉ quỹ ở các lần phát hành tập trung (mở) thì chỉ có thể mua lại ở thị trường chứng khoán thứ cấp, từ nguồn các cổ đông đã giao dịch tương tự như giao dịch các cổ phiếu trên thị trường.

Quỹ không có liên quan giá tới những giao dịch này. Vì vậy, quỹ đóng còn có thể là quỹ giao dịch phát hành ra công chúng (publicly – trade fund).

Sau khi kết thúc việc huy động vốn hay đóng quỹ, muốn tạo khả năng thanh khoản hiệu quả cho loại quỹ này, những chứng chỉ quỹ thường sẽ được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hay có thể chỉ được giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung OTC (Over The Counter) và hình thức giao dịch tương tự như các cổ phiếu thường. Những nhà đầu tư ban đầu có thể giao dịch mua bán theo nhu cầu.

Chứng chỉ quỹ cũng có thể được giao dịch thấp hay cao hơn giá trị tài sản ròng của quỹ. Các quỹ đóng thường có cơ cấu vốn và sức khỏe dòng tiền ổn định, vậy nên có lợi thế trong việc đầu tư vào các hạng mục có tính dài hạn và mã chứng tính thanh không cao nhưng tiềm năng giá trị kinh doanh lại đánh giá.

Tuy vậy, chứng chỉ quỹ có nhược điểm là tính thanh khoản khá cao, vậy nên thị giá trên sàn thường thấp và thời gian thu hồi của các nhà đầu tư khá lâu.

Các quỹ ETF ở Việt Nam

Những năm gần đây, quỹ ETF đã dần trở nên quen thuộc hơn với những nhà đầu tư chứng khoán ở Việt Nam. Quỹ ETF giải ngân vào Việt Nam với quy mô lớn, thậm chí lên đến vài trăm triệu USD. Vậy nên, hoạt động cơ cấu của các quỹ ETF cũng ảnh hưởng không nhỏ đến diễn biến thị trường.

Quỹ ETF là gì ?

Hiện trên trên thị trường chứng khoán Việt Nam có nhiều quỹ ETF đang hoạt động, có thể kể tới một vài cái tên quen thuộc như:

  • VanEck Vetos Vietnam ETF (VNM ETF)
  • FTSE Vietnam ETF, VFMVN30 ETF
  • iShares MSCI Frontier 100 ETF
  • KIM Kindex Vietnam VN30 ETF
  • SSIAM VNX50 ETF
  • Invesco Frontier Markets ETF (FRN ETF)
  • S&P Select Frontier ETF

Quỹ ETF VFMVN30

Mục tiêu của quỹ ETF VFMVN30 là mô phỏng gần nhất có thể về biến động (performance) của chỉ số tham chiếu VN30 sau khi trừ đi chi phí của Quỹ.

Chỉ số VN30 là chỉ số giá (price index) do sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh xây dựng và quản lý, bao gồm 30 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), có giá trị vốn hóa và thanh khoản lớn hàng đầu.

Quỹ VanEck Vectors Vietnam ETF (VNM)

Chứng chỉ VNM khá phổ biến với các nhà đầu tư Việt Nam. Những doanh nghiệp được thành lập ở nước ta sẽ có một phần hai doanh thu ở Việt Nam hay tài sản của họ ở Việt Nam chiếm một nữa thì đạt điều kiện để chứng chỉ quỹ này quyết định thêm vào danh mục hoán đổi của họ.

Quỹ ETF là gì ?

Đây là mức chi phí khá cao của quỹ và nó cũng có rủi ro lớn. Cũng vì vậy nên dẫn đến việc chỉ tiêu như tài sản ròng và khối lượng  giao dịch có con số tốt, khiến cho các chứng chỉ này tính thanh khoản cao.

Quỹ Invesco Frontier Markets ETF (FRN)

Quỹ ETF này có 9% tài sản của mình ở những doanh nghiệp Việt Nam và đầu tư vào quỹ ETF khác cùng với những thị trường ở các quốc gia lân cận. Quỹ tìm kiếm các doanh nghiệp thị trường mới nổi giao dịch trên thị trường chứng khoán Luân Đôn, Sở giao dịch chứng khoán New York, NYSE Amex và nasdaq.

FRN phù hợp cho các nhà đầu tư quan tâm đến việc bỏ tiền vào các công ty Việt Nam nhưng vẫn cũng tiếp xúc đầu tư với những thị trường mới nổi khác.

Quỹ FTSE Vietnam Index ETF

FTSE Vietnam Index ETF là chứng chỉ số thành lập đầu tiên ở Việt Nam do Deutsche Bank AG đứng sau, thành lập vào ngày 15/1/2008 với tổng số vốn từ ban đầu là 5.1 triệu USD. Quỹ ETF này mô phỏng chỉ số FTSE Vietnam – là một trong hai chỉ số do FTSE Group xây dựng trước đó.

Chỉ số thứ nhất là FTSE Vietnam All – Share Index, bao gồm các cổ có tỷ trọng sở hữu lên đến 90% giá trị vốn hóa thị trường. Chỉ số còn lại là FTSE Vietnam, gồm các chứng khoán thuộc chỉ số FTSE Vietnam All –Share Index và còn dòng đầu tư vốn ngoại.

Columbia Beyond BRICs ETF (BBRC)

Đúng như tên gọi của nó, quỹ này phần lớn tập trung vào việc đầu tư các thị trường đang phát triển như Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Bên cạnh đó, BBRC còn đầu tư vào những thị trường khác, điển hình là ở Việt Nam.

Quỹ BBRC ETF đầu tư gần 6% vào thị trường Việt Nam. Quỹ này mô phỏng theo chỉ số FTSE Beyond BRICS và giữ ít nhất 80% tài sản của nó trong những công ty nằm trong chỉ số này.

Chứng chỉ quỹ ETF được định giá như thế nào?

Tổ chức phát hành tính toán và công bố giá trị tài sản ròng (NAV, Net Asset Value) của quỹ ETF hàng ngày, dựa vào giá đóng cửa chứng khoán cơ cấu trong danh mục sau khi cộng vào lệ phí và chi phí. Trong phiên giao dịch, thị giá chứng chỉ quỹ có thể thay đổi liên tục do sự giao động của giá trị cổ phiếu trong danh mục đầu tư và nhu cầu của nhà đầu tư.

Song, cơ chế kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) thường giữ thị giá chứng chỉ quỹ ETF gần với NAV của nó, cụ thể:

  • Nếu giá ETF cao hơn giá trị NAV thì người tham gia kinh doanh arbitrage có thể mua các chứng khoán cơ cấu để đổi lấy đơn vị quỹ ETF và bán nó ở trên thị trường chứng khoán để kiếm lợi nhuận.
  • Nếu giá ETF thấp hơn giá trị NAV thì người tham gia kinh doanh arbitrage có thể mua các đơn vị quỹ ETF trên thị trường chứng khoán để đối lấy chứng khoán cơ cấu, và sau đó bán những cổ phiếu riêng lẻ trên thị trường để kiếm lợi nhuận.
  • Hoạt động arbitrage giữa các thành viên lập quỹ và tổ chức tạo lập thị trường sẽ đảm bảo giá chứng chỉ quỹ ETF liên hệ chặt chẽ với giá của các chứng khoán cơ cấu.

Rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF

Rủi ro khác biệt giá trước khi niêm yết, trước khi phát hành quỹ ETF sẽ huy động vốn từ những các nhà đầu tư tổ chức để hình thành nên vốn mồi (seed fund). Vốn mồi được sử dụng để tập hợp các chứng khoán cơ cấu và sau đó sẽ đổi thành chứng chỉ quỹ để bán ra công chúng.

Rủi ro khác biệt giá trước khi niêm yết, trước khi phát hành quỹ ETF sẽ huy động vốn từ những các nhà đầu tư tổ chức để hình thành nên vốn mồi (seed fund)

Rủi ro khác biệt giá trước khi niêm yết, trước khi phát hành quỹ ETF sẽ huy động vốn từ những các nhà đầu tư tổ chức để hình thành nên vốn mồi (seed fund)

Như vậy, từ lúc góp vốn cho đến lúc quỹ được phát hành và niêm yết thì sẽ cần được một khoảng thời gian nhất định. Trong khoảng thời gian đó, nhà đầu tư phải đối diện với rủi ro biến động giá của tài sản cơ cấu và của ETF.

Mức sinh lời của quỹ không vượt trội so với chỉ số. Do ETF mô phỏng chỉ số nên ngay cả khi thị trường ở trong giai đoạn tăng trưởng mạnh nên ETF cũng không thể thu được mức lợi nhuận vượt trội chỉ số mà nó mô phỏng. Đây cũng là điểm yếu lớn nhất của quỹ ETF.

Rủi ro với hệ thống đối với chỉ số mô phỏng. Về mặt lý thuyết, đầu tư vào một danh mục sẽ giảm được mức biến động giá và tác động của từng chứng khoán riêng lẻ lên toàn bộ danh mục. Song, bản thân của chính danh mục đầu tư cũng không thể tránh khỏi rủi ro hệ thống.

Do ETF chính là một dạng đầu tư chỉ số, rủi ro hệ thống của ETF cũng tương đương với rủi ro biến động của thị trường. Khi thị trường giảm, chỉ số giảm và nhà đầu tư phải gánh chịu lỗ. Các quyền khác với cổ phiếu thường. Với ETF, nhà đầu tư phải thông qua công ty quản lý quỹ để mua chứng chỉ quỹ. Nắm giữ chứng chỉ quỹ ETF cũng giống như nắm một rổ chứng khoán cơ cấu.

Song, do các chứng khoán thành phần vẫn thuộc về công ty quản lý quỹ, các nhà đầu tư nắm giữ ETF không có những quyền đối với chứng khoán thành phần mà các công ty quản lý quỹ mới đóng vai trò là cổ đông của các cổ phiếu cơ cấu và có được các quyền liên quan như tham dự đại hội cổ đông, nhận cổ tức, cổ phiếu thưởng,…

Sai số trong mô phỏng chính là độ lệch chuẩn giữa tỷ suất sinh lợi của ETF và tỷ suất sinh lợi của chỉ số cơ sở. ETF có sai số mô phỏng nhỏ thì càng thu hút được các nhà đầu tư. Với những nhà quản lý quỹ ETF, chứng năng chính và quan trọng chính là duy trì sai số mô phỏng càng nhỏ càng tốt bằng cách cơ cấu lại danh mục của quỹ.

Trong thực tế, do sự biến động của thị trường và những yếu tố khác như các hoạt động chia, tách, sáp nhập doanh nghiệp hay phát hành cổ phiếu thưởng,…làm cho nhiệm vụ giảm thiểu sai số mô phỏng trở nên khó khăn hơn, đặc biệt là ở trong trường hợp thị trường thiếu thanh khoản.

Tình trạng chênh lệch giá, giống như cổ phiếu, ETF chịu ảnh hưởng bởi khối lượng giao dịch. Khi khối lượng giao dịch tăng lên nhanh chóng chỉ trong thời gian ngắn, hay giảm xuống một cách đáng kể sẽ tạo ra chênh lệch giữa giá giao dịch và NAV.

Mặc dù ETF có cơ chế giao dịch đặc biệt từ thị trường sơ cấp, thứ cấp, tình trạng gia tăng (premium) hoặc khấu trừ (discount) vẫn có thể diễn ra và sẽ gây bất lợi cho nhà đầu tư.

Rủi ro tỷ giá đối với các ETF nước ngoài. Biểu hiện dễ thấy nhất của rủi ro này là trong trường hợp ETF được niêm yết ở thị trường nước ngoài còn rổ chứng khoán cơ cấu được niêm yết ở thị trường trong nước. Nếu đồng nội tệ bị mất giá so với ngoại tệ, NAV của ETF cũng giảm theo và nhà đầu tư phải gánh chịu mức lỗ này.

Sơ lược về quỹ ETF tại Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam có 2 quỹ ETF lớn và tác động khá mạnh mẽ vào thị trường đó là ETF VNM và ETF FTSE Vietnam Index. Điều kiện xem xét rổ danh mục của quỹ ETF FTSE Vietnam Index:

Hiện nay ở Việt Nam có 2 quỹ ETF lớn và tác động khá mạnh mẽ vào thị trường đó là ETF VNM và ETF FTSE Vietnam Index

Hiện nay ở Việt Nam có 2 quỹ ETF lớn và tác động khá mạnh mẽ vào thị trường đó là ETF VNM và ETF FTSE Vietnam Index

Vốn hoá

Các công ty có vốn hóa thị trường không nằm trong top 92% giá trị vốn hóa thị trường của danh mục sẽ bị xóa khỏi chỉ số FTSE Việt Nam All-Share Index. Một cổ phiếu sẽ được thêm vào danh mục nếu như giá trị vốn hóa thị trường có thể đầu tư của cổ phiếu này lớn hơn 1% giá trị vốn hóa thị trường của chỉ số FTSE Vietnam Index trước kỳ review.

Một cổ phiếu sẽ bị loại khỏi danh mục nếu như giá trị vốn hóa thị trường có thể đầu tư của cổ phiếu này thấp hơn 0,5% giá trị thị vốn hóa thị trường của chỉ số FTSE Vietnam Index trước kỳ review.

Thanh khoản

Giá trị giao dịch bình quân ngày trong 3 tháng của một cổ phiếu mới không đạt ít nhất 20% giá trị trung bình ngày 3 tháng của chỉ số FTSE Việt Nam All – Share Index thì không đủ điều kiện để được đưa vào chỉ số FTSE Vietnam All- Share Index.

Các cổ phiếu đã có trong rổ chỉ số FTSE Vietnam All-share nếu không đạt ít nhất 10% giá trị giao dịch bình quân 1 phiên trong 3 tháng của rổ FTSE Vietnam All-share sẽ bị loại khỏi rổ FTSE Vietnam All-share Index. Các cổ phiếu mới không có dữ liệu về giao dịch trong 3 tháng được cho là không có đủ điều kiện để được thêm vào chỉ số.

Tỷ lệ cổ phiếu tự do lưu hành (free float)

Những cổ phiếu đã nằm trong rổ và có tỷ lệ free float ( được tính bằng số cổ phiếu tự do giao dịch trên tổng số cổ phiếu đang lưu hành) lớn hơn 5% nhưng nhỏ hơn hoặc bằng 15% sẽ bị loại khỏi rổ Index nếu vốn hóa toàn thị trường nhỏ hơn 25 ngàn tỷ đồng hoặc không nằm trong top 10 xét về giá trị vốn hóa).

Với những cổ phiếu không nằm trong rổ, tại kỳ review, cổ phiếu không nằm trong rổ và có tỷ lệ free float lớn hơn 5% nhưng nhỏ hơn hoặc bằng 15% tổng giá trị vốn hóa sẽ có đủ điều kiện để được thêm vào chỉ số nếu như có giá trị vốn hơn lớn hơn 45.000 tỷ đồng hoặc nếu nằm trong top 5 xét về giá trị vốn hóa và đáp ứng được tất cả các điều kiện khác.

Room ngoại

FTSE Vietnam Index sẽ loại bỏ cổ phiếu với mức độ sẵn sàng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài từ 2% trở xuống. Song, các cổ phiếu này được xem xét thêm vào danh mục khi room ngoại tăng lên trên 10%.

Mức độ sẵn sàng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài được tính bằng cách lấy mức trần trừ đi số cổ phần hiện đang được nắm giữ bởi các nhà đầu tư. Chẳng hạn, nếu nhà đầu tư nước ngoài nắm 32% cổ phần của 1 công ty có giới hạn room ngoại là 49%, chỉ số trên sẽ là 17%.

Những cổ phiếu bị loại khỏi danh mục bởi vì bị tạm ngưng giao dịch hay bị thâu tóm sẽ bị thay thế. Điều này tương tự được áp dụng với các cổ phiếu bị loại bỏ để phù hợp với những luật lệ mới hay khi có công ty mới xuất hiện từ quá trình tái cấu trúc của một công ty.

Khi một công ty bị loại khỏi FTSE Vietnam Index Seris sau khi các thay đổi với danh mục được quyết định nhưng lại trước khi các thay đổi được thực hiện, khoảng trống này sẽ không được thay thế cho đến kỳ review tiếp theo.

Trong trường hợp phần lớn những cổ phiếu trong FTSE Vietnam Index có mức độ sẵn sàng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thấp hơn hay bằng 2%, tổng số cổ phiếu đủ điều kiện tại kỳ review thấp hơn 10,FTSE Vietnam Index sẽ duy trì con số thấp nhất là 10 cổ phiếu, bất chấp các cổ phiếu không đáp ứng được điều kiện về mức độ sẵn sàng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.

10 cổ phiếu này được duy trì đến khi các cổ phiếu thêm mới đáp ứng tiêu chuẩn. Và trường hợp này xảy ra, cổ phiếu mới được thêm vào sẽ thay thế cổ phiếu nhỏ nhất có tỷ lệ dưới 2%.

Trường hợp sáp nhập, chia tách cổ phiếu

Nếu một cổ phiếu nằm trong FTSE Vietnam Index bị thâu tóm bởi công ty khác, công ty được hình thành sẽ nằm trong rổ và xuất hiện khoảng trống. Khoảng trống này không thể bị thay thế đến kỳ review tiếp theo. Còn nếu một công ty trong rổ chỉ số bị chia tách nhằm mục đích hình thành hay hay nhiều công ty thì các công ty mới sẽ nằm trong chỉ số cho đến kỳ review tiếp theo.

Trường hợp cổ phiếu đó tạm ngưng giao dịch, nó vẫn có thể nằm trong danh mục, với mức giá tại thời điểm ngừng giao dịch và trong thời gian cao nhất là 20 ngày giao dịch. Trong thời gian này, FTSE có thể tạm thời xóa bỏ cổ phiếu với mức giá bằng 0 trong trường hợp dự đoán cổ phiếu không thể trở lại.

Nếu cổ phiếu giao dịch trở lại trước chiều ngày giao dịch thứ 20 và lệnh xóa bỏ cổ phiếu này vẫn chưa được thực hiện, cổ phiếu sẽ bị xóa bỏ khỏi danh mục vào ngày thứ 21 với mức giá bằng 0. Nếu lý do tạm ngừng giao dịch không gây tổn thất đến cổ phiếu và ngắn hạn thì cổ phiếu có thể sẽ được khôi phục tại mức giá treo.

Trường hợp quá trình quy trình trong điều 6.4.1 hoặc 6.4.2 sẽ dẫn đến việc cổ phiếu bị loại khỏi các chỉ số, cổ phiếu cũng sẽ không bị thay thế cho đến kỳ review kế đến.

Trên đây là một số chia sẻ của chúng tôi giúp bạn hiểu rõ hơn về quỹ ETF là gì và hình thức hoạt động của quỹ ETF tại Việt Nam. Đừng quên ghé thăm chuyên trang của chúng tôi để được chia sẻ thêm nhiều thông tin bổ ích hơn bạn nhé!

Ủng hộ bài viết chúng tôi

Xếp hạng trung bình / 5. Số phiếu:

Chưa có ai đánh giá

3